Những sắc màu văn hóa

LÀNG TÔI CÓ ĐỘI CHÈO

"Muốn nghe tiếng hát trong ngần, Về đội văn nghệ Tự Tân xem chèo"... Đấy là hai câu thơ trong bài thơ: "Quê tôi ở huyện Thư Trì" của cố nhà thơ, nhà báo Xuân Tình. Theo lời thơ ấy, lần tìm về những tháng năm xưa cũ, nghe mọi người kể chuyện, mới biết: Tự Tân thuở ấy có một đội chèo được cả vùng mến mộ. Tiếng là Tự Tân nhưng thực chất đây là đội chèo của La Điền.

Lẵng hoa tươi thắm dâng lên Đảng quang vinh và mùa xuân đất nước

Mùa xuân năm nay ấm hơn mọi năm, sau tiết lập xuân tôi cùng đoàn cán bộ của Tỉnh ủy Thái Bình đến thăm Trung tâm công tác xã hội và bảo trợ xã hội Thái Bình. Đoàn được các đồng chí lãnh đạo đón tiếp nhiệt tình tại phòng khách, chuyện trò thăm hỏi, nghe báo cáo khái quát của Trung tâm, sau đó tặng quà và đi thăm các phòng ban, nơi ăn chốn ở của các đối tượng xã hội.

Người lính - doanh nhân Trần Mạnh Báo và cuốn tự truyện “Đối thoại với cánh đồng”

Tự truyện “Đối thoại với cánh đồng” của người lính - doanh nhân Trần Mạnh Báo như một cuốn từ điển sống, gieo hạt giống tâm hồn, gieo mầm ý tưởng, bật tung những khát khao, mơ ước cho người đọc khi dõi theo hành trình sống và làm việc của tác giả - con người ham đọc sách, nhiệt huyết, có ý chí, có hoài bão, ước mơ ấy luôn cần mẫn, ham học hỏi, chịu khó quan sát và hết sức quan tâm, yêu thương cuộc đời, yêu thương con người.

Nghệ thuật chèo ở Thái Bình: Xưa và nay

Thái Bình là một trong những nôi chèo của Việt Nam. Căn cứ vào những tư liệu hiện còn, hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất khẳng định nghệ thuật chèo ra đời ở vùng châu thổ Bắc Bộ và định hình ở tứ trấn: Ðông, Ðoài, Nam, Bắc, tương đương với tên gọi của các chiếng chèo tứ xứ: xứ Ðông, xứ Ðoài, xứ Nam, xứ Bắc. Tỉnh Thái Bình cùng các tỉnh Hà Nam, Nam Ðịnh, Hưng Yên ngày nay nằm trong chiếng chèo xứ Nam.

Chuyện về anh hùng quân đội Nguyễn Thị Chiên

Sinh ra và lớn lên trên quê hương “năm tấn” Thái Bình, Nguyễn Thị Chiên đã từng tham gia chiến đấu dũng cảm trong thời kì kháng chiến chống Pháp, bảo vệ xóm làng, góp phần giải phóng quê hương. Nguyễn Thị Chiên kể: Tôi mồ côi cha từ 5 tuổi và phải ở đợ. Anh trai bị giặc Pháp bắn chết cùng với một số bà con thôn xóm trong một trận càn. Năm 16 tuổi, tôi xung phong và đội du kích xã Tán Thuật, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Tôi cùng đồng đội đã tiêu diệt và bắt sống 52 tên địch. Tôi đã tham gia nhiều trận đánh. Trong đó, có lần đánh giáp lá cà với địch.

Tiểu thuyết viết về chiến tranh sau chiến tranh

Chiến tranh đã lùi xa bốn mươi năm nhưng dư âm về sự tàn khốc và ác liệt của nó thì vẫn ám ảnh mãi khôn nguôi với mỗi người dân dải đất Việt Nam. Cuộc chiến ấy hào hùng, thiêng liêng và vĩ đại nhưng đi cùng với nó là nỗi đau, là sự mất mát, là những tổn thất mà không sự thống kê nào có thể diễn tả lại chính xác được. Chiến tranh, danh từ ấy đâu chỉ nằm cố định trong từ điển ngữ nghĩa, đâu chỉ có giá trị về mặt từ vựng mà từ ấy đã được viết lên bằng máu, bằng nước mắt, bằng sự hi sinh của triệu triệu lớp người cả hữu danh và vô danh. Nó quằn quại vận động, nó gây nhức nhối cho bất kì ai dù đã từng hay chưa một lần trực tiếp trải nghiệm chiến tranh. Dù mười năm, hai mươi năm, năm mươi năm hay lâu hơn nữa, chiến tranh chắc chắn vẫn sẽ còn khắc khoải mãi, đặc biệt với những người đã từng là lính, đã từng cầm súng nơi chiến trường đạn nổ bom rơi, đã từng cảm nhận thế nào là vinh quang, là chiến thắng và cũng là những người thấm thía hơn ai hết thế nào là mất mát, là hi sinh mà chiến tranh đã gây ra cho họ. Cũng bởi vậy, chiến tranh luôn là một đề tài sôi nổi, là miền đất hứa cho rất nhiều sáng tác của các nhà văn. Trong thời kì kháng chiến, văn học viết về đề tài này đã xây dựng thành công và đẹp đẽ hình tượng con người cộng đồng, con người sử thi cao cả và vĩ đại. Họ đã chiến đấu hết mình vì sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, thống nhất non sông, họ sống vì lí tưởng “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Đó là hình ảnh của những anh hùng như Tnup, Tnu… là hình ảnh của chị Sứ, chị út Tịch, hiên ngang và bất khuất. Nhân vật được khai thác chủ yếu trên bình diện cộng đồng, trong hệ ý thức dân tộc, trong niềm cảm hứng sử thi.

Chi hội văn nghệ dân gian Thái Bình: Đẩy mạnh công tác bảo tồn và khai thác các giá trị văn nghệ dân gian trong đời sống văn hóa đương đại.

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, sưu tầm văn học, bảo tồn và khai thác các giá trị văn nghệ dân gian trong đời sống đương đại là 1 trong 6 nhiệm vụ trọng tâm mà Chi hội văn nghệ dân gian Thái Bình đề ra trong nhiệm kỳ 2015 - 2020.

Kỷ niệm 125 năm thành lập tỉnh - Thái Bình trọn vẹn niềm tin theo Đảng

Thái Bình là vùng quê có bề dày truyền thống văn hóa, yêu nước và cách mạng; nhân dân kiên cường, bất khuất, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, dũng cảm trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Đặc biệt là từ khi có Đảng đến nay, Đảng bộ quân và dân Thái Bình đã khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, không ngừng phấn đấu, xây dựng quê hương Thái Bình ngày càng phát triển.

Đến thăm ruộng muối Diêm Điền của Thái Bình

Trong hành trình tới vùng biển Thái Bình, không ít du khách tìm đến làng nghề truyền thống Diêm Điền, nơi những hạt muối trắng mặn mòi của biển khơi ra đời.

Sự tác động tương hỗ giữa Lễ hội và du lịch ở Thái Bình

Lễ hội là một hoạt động văn hóa mang tính tất yếu và thiết yếu trong đời sống văn hóa xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc. Lễ hội là sản phẩm của lịch sử, nó ra đời, tồn tại và vận hành cùng lịch sử. Chừng nào còn con người, chừng đó còn có đời sống văn hóa, trong đó có hoạt động lễ hội. Còn du lịch ra đời muộn hơn nhưng lại phát triển với tốc độ nhanh chóng và cũng trở thành một nhu cầu không thể thiếu của con người trong xã hội hiện đại. Tự thân hai hoạt động này tìm đến nhau như là những thành tố của một xã hội phát triển, một xu hướng phát triển tất yếu, khách quan của xã hội loài người trong không gian, môi trường, điều kiện và hoàn cảnh mới.

Hưng Hà, Thái Bình – mảnh đất địa linh phát nghiệp vương triều Trần.

Vai trò và mối quan hệ cội rễ với nghiệp Trần ở thế kỷ XIII đã là những dấu son đặc biệt trong trang sử hàng ngàn năm mở đất và bảo vệ quê hương của Thái Bình nói chung, Hưng Hà nói riêng. Sự quan tâm, tin cậy của nhà Trần đã tạo cho Thái Bình có cơ hội không chỉ bộc lộ, thể hiện được tiềm năng sức mạnh mà còn nâng cao tầm vóc, vị trí miền đất dấy nghiệp trong sự nghiệp xây dựng và giữ gìn giang sơn bờ cõi của Đại Việt.

BÁNH GAI ĐẠI ĐỒNG

Làng Đại Đồng thuộc xã Tân Hòa (Vũ Thư) có thể được coi là quê hương của những món ăn dân dã, nhưng không kém phần độc đáo, như bún ốc, bánh dẻo, bánh ú, bánh tráng, riêng bánh gai, đã trở thành đặc sản.

LỆ CHIỀNG RỐI Ở LÀNG ĐÓ

Làng An Phú, tên nôm là làng Đó, xưa thuộc xã Quỳnh Côi, huyện Quỳnh Côi, nay thuộc xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Phụ, là một làng có dân số lớn, có đình chùa, miếu mạo khang trang. Có văn chỉ thờ Khổng Tử, có cầu “thượng gia hạ trì” bắc qua con ngòi nối liền hai làng giao chạ. Có quán đá giữa cánh đồng cho người làm ruộng nghỉ ngơi khi nắng bức. Làng có hai hội tuồng, chèo; một đội múa lân; một phường đánh gậy năm nào cũng nô nức mở hội vào xuân. Nhưng làng Đó còn có lệ chiềng Rối vào ngày mùng 6 tháng 4 Âm lịch thu hút nhân dân đến xem rất đông.

Ẩm thực Thái Bình: Giản dị miền quê lúa

Thái Bình sản sinh ra những đặc sản bình dị, đơn sơ như chính con người nơi đây. Không mang vẻ hùng vĩ, rợn ngợp như nhiều địa danh khác trên dải đất hình chữ S, quê lúa Thái Bình hiền hòa như chính cái tên của mình. Khắp tỉnh đều mượt mà đồng ruộng bằng phẳng, nhiều sông ngòi hồ ao và khí hậu mát mẻ. Điểm cuốn hút của Thái Bình là những di tích lịch sử và văn hóa, các lễ hội, trò chơi, điệu múa dân gian hấp dẫn. Đặc biệt, Thái Bình có riêng nhiều món ăn ngon, lành như cốm làng Thanh Hương, canh cá Quỳnh Côi, ổi Bo, bánh cáy...

Giá trị văn hoá truyền thống làng Nguyễn

Làng Nguyễn (hay Nguyên Xá) nằm ở trung tâm huyện Đông Hưng - tỉnh Thái Bình, giữa ngã ba quốc lộ 10 và đường 36A - là mảnh đất có bề dày lịch sử văn hoá truyền thống mà biết bao học giả đã dày công nghiên cứu

Bản quyền thuộc về Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Địa chỉ: Số 194, phố Hai Bà Trưng, thành phố Thái Bình. Điện thoại: 036.3831.461; Fax: 036.3831.461